Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

October, 27 2020
Rate this item
(13 votes)
(Reading time: 7 - 13 minutes)

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài/ doanh nghiệp FDI là gì? Đặc điểm doanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.


Kể từ ngày thi hành Luật Đầu tư 2014 đến nay, các dự án có vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam ngày một tăng lên. Đến nay, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hay còn gọi là doanh nghiệp FDI đã có mặt khắp 63 tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu tại các địa bàn trọng điểm, có lợi thế như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương.

Luật đầu tư 2014 không còn quy định về thuật ngữ “doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”. Thay vào đó, khoản 18 điều 3 quy định: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông”. Trong đó khoản 16 cũng quy định: “Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”.

Như vậy có thể hiểu Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài/ doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông, vốn đầu tư của bên nước ngoài không phân biệt tỉ lệ góp vốn là bao nhiêu.

Khái niệm nhà đầu tư nước ngoài cũng được quy định tại khoản 14 điều 3 như sau: “Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam”

Các tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài/ vốn FDI sau đây phải đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư khi thành lập:

Tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hợp đồng BCC thuộc một trong các trường hợp sau đây:

Có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là cá nhân nước ngoài đối với tổ chức kinh tế là công ty hợp danh;

Có tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên;

Có nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế quy định tại điểm a khoản này nắm giữ từ 51 % vốn điều lệ trở lên”.

----------

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tiếng Anh: Foreign Direct Investment, viết tắt là FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất kinh doanh này.

Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa như sau về FDI:

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".

 

  • Đặc điểm doanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Doanh nghiệp FDI của Việt Nam phải nằm trên lãnh thổ Việt Nam và các doanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài này phải chịu sự quản lý của nhà nước, đối với laoij hình doanh nghiệp này sẽ có thời hạn trong vòng 50 năm đến 70 năm, có nghĩa là khi hét thời hạn nêu trên các doanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải giải thể hoặc chuyển lại cho phía Việt Nam

Một doanh nghiệp FDI thường không chỉ thuộc phần sở hữu của mỗi nước Việt Nam mà nó còn có thể thuộc phần sở hữu của các công ty đa quốc gia khác. Do đó, nó không hoàn toàn chỉ phụ thuộc phụ thuộc khuôn khổ pháp lý của nước ta thôi. Tức là quyền quản lý doanh nghiệp FDI sẽ phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn giữa các bên, các doanh nghiệp FDI sẽ có sự tham gia trực tiếp quản lý của bên nước ngoài, Tuy nhiên, vì doanh nghiệp FDI được đầu tư vào Việt Nam thì sẽ là pháp nhân của Việt Nam, dẫn đến việc ra đời, hoạt động của doanh nghiệp FDI này sẽ chịu sự chi phối của pháp luật Việt Nam.

Hành trình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam hơn 30 năm đã gắn liền với hội nhập quốc tế của nền kinh tế và công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Do đódoanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành nhân tố vô cùng quan trọng và là nhân tố không thể thiếu đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam. Doanh nghiệp FDI không chỉ là môi trường nhằm phát huy nội lực để thực hiện các công cuộc đổi mới, mà các doanh nghiệp FDI còn là cơ sở để chuyển nền kinh tế Việt Nam từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, doanh nghiệp FDI là nhân tố hứa hẹn có thể giúp nước ta tăng cường khả năng cạnh tranh toàn cầu.

  • Một số vai trò tích cực của doanh nghiệp FDI/ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

+ Phát huy lợi thế đặc biệt của các công ty đa quốc gia.

Công ty đa quốc gia có những lợi thế đặc thù cho phép công ty vượt qua những trở ngại về chi phí ở nước ngoài nên họ sẵn sàng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Khi chọn địa điểm đầu tư, những công ty đa quốc gia sẽ chọn nơi nào có các điều kiện (lao động, đất đai,chính trị) cho phép họ phát huy các lợi thế đặc thù nói trên. Những công ty đa quốc gia thường có lợi thế lớn về vốn và công nghệ đầu tư ra các nước sẵn có nguồn nguyên liệu, giá nhân công rẻ và thường là thị trường tiêu thụ tiềm năng... ta dễ dàng nhận ra lợi ích của việc này!

+ Tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại.

Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một biện pháp để tránh xung đột thương mại song phương. Ví dụ, Nhật Bản hay bị Mỹ và các nước Tây Âu phàn nàn do Nhật Bản có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt thương mại trong quan hệ song phương. Đối phó, Nhật Bản đã tăng cường đầu tư trực tiếp vào các thị trường đó. Họ sản xuất và bán ô tô, máy tính ngay tại Mỹ và châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm này từ Nhật Bản sang. Họ còn đầu tư trực tiếp vào các nước thứ ba, và từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ và châu Âu.

+ Khai thác chuyên gia và công nghệ.

Không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển hơn sang nước kém phát triển hơn. Chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa. Nhật Bản là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Mỹ để khai thác đội ngũ chuyên gia ở Mỹ. Ví dụ, các công ty ô tô của Nhật Bản đã mở các bộ phận thiết kế xe ở Mỹ để sử dụng các chuyên gia người Mỹ. Các công ty máy tính của Nhật Bản cũng vậy. Không chỉ Nhật Bản đầu tư vào Mỹ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự. Trung Quốc gần đây đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào Mỹ. Việc công ty đa quốc gia quốc tịch Trung Quốc là Lenovo mua bộ phận sản xuất máy tính xách tay của công ty đa quốc gia mang quốc tịch Mỹ là IBM được xem là một chiến lược để Lenovo tiếp cận công nghệ sản xuất máy tính ưu việt của IBM. Hay việc TCL (Trung Quốc) trong sáp nhập với Thompson (Pháp) thành TCL-Thompson Electronics, việc National Offshore Oil Corporation (Trung Quốc) trong ngành khai thác dầu lửa mua lại Unocal (Mỹ) cũng với chiến lược như vậy.

+ Tiếp cận nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Để có nguồn nguyên liệu thô, nhiều công ty đa quốc gia tìm cách đầu tư vào những nước có nguồn tài nguyên phong phú. Làn sóng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài lớn đầu tiên của Nhật Bản vào thập niên 1950 là vì mục đích này. FDI của Trung Quốc hiện nay cũng có mục đích tương tự.

 

  • Lợi ích của thu hút FDI/ vốn nước ngoài.

 

  • Bổ sung cho nguồn vốn trong nước.

Trong các lý luận về tăng trưởng kinh tế, nhân tố vốn luôn được đề cập. Khi một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh hơn, nó cần nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nước không đủ, nền kinh tế này sẽ muốn có cả vốn từ nước ngoài, trong đó có vốn FDI.

  • Tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý.

Trong một số trường hợp, vốn cho tăng trưởng dù thiếu vẫn có thể huy động được phần nào bằng "chính sách thắt lưng buộc bụng". Tuy nhiên, công nghệ và bí quyết quản lý thì không thể có được bằng chính sách đó. Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nước có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đã tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nước thu hút đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của đất nước.

  • Tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu.

Khi thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia, không chỉ xí nghiệp có vốn đầu tư của công ty đa quốc gia, mà ngay cả các xí nghiệp khác trong nước có quan hệ làm ăn với xí nghiệp đó cũng sẽ tham gia quá trình phân công lao động khu vực. Chính vì vậy, nước thu hút đầu tư sẽ có cơ hội tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu thuận lợi cho đẩy mạnh xuất khẩu.

  • Tăng số lượng việc làm và đào tạo nhân công.

Vì một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt được chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sẽ thuê mướn nhiều lao động địa phương. Thu nhập của một bộ phận dân cư địa phương được cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của địa phương. Trong quá trình thuê mướn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trường hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nước đang phát triển thu hút FDI, sẽ được xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nước thu hút FDI. Không chỉ có lao động thông thường, mà cả các nhà chuyên môn địa phương cũng có cơ hội làm việc và được bồi dưỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

  • Nguồn thu ngân sách lớn.

Đối với nhiều nước đang phát triển, hoặc đối với nhiều địa phương, thuế do các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nộp là nguồn thu ngân sách quan trọng. Chẳng hạn, ở Hải Dương riêng thu thuế từ công ty lắp ráp ô tô Ford chiếm 50 phần trăm số thu nội địa trên địa bàn tỉnh năm 2006.

  • Luật Đầu tư 2014 đã tạo ra những điều kiện thuận lợi gì cho doanh nghiệp FDI

Trước kia, hầu hết các dự án đầu tư có vốn nước ngoài dù ít hay nhiều đều cũng cần phải xin cấp giấy chứng nhận đầu tư. Tuy nhiên, Luật Đầu tư 2014 khuyến khích đầu tư nước ngoài vào Việt Nam nên chỉ còn yêu cầu nhà đầu tư xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với dự án mà người nước ngoài đầu tư vào Việt Nam và dự án của doanh nghiệp FDI tuy nhiên chỉ những dự án mà người nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ.

Các dự án có vốn FDI dưới 51% vốn điều lệ thì sẽ không cần phải xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

+ Luật Đầu tư 2014 hiện nay chỉ điểu chỉnh dự án đầu tư:

tức là Luật Đầu tư 2014 chỉ điều chỉnh đối với các dự án đầu tư, còn đối với việc thành lập doanh nghiệp thì sẽ do Luật Doanh nghiệp điều chỉnh, cụ thể luật đầu tư đã tách nội dung đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp ra khỏi giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (hiện nay là giấy chứng nhận đầu tư). Như vậy, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hiện giờ chỉ ghi nhận đối với thông tin về dự án đầu tư.

+ Tạo điều kiện thuận lợi đối với các Dự án đầu tư trong nước:

dự án của nhà đầu tư trong nước chỉ cần hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là đủ, sẽ không phải thực hiện thủ tục đối vớii việc cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và doanh nghiệp.

 

Mộng Như - Pháp lý Hi Bay

 

 

Read 3845 times

Leave a comment

Make sure you enter all the required information, indicated by an asterisk (*). HTML code is not allowed.